20:53 EDT Thứ tư, 19/09/2018

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 1947

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 28102

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10338447

Trang nhất » CÁC BỘ BAN » CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

Ý NGHĨA LỊCH SỬ NGÀY 8-3 VÀ SỰ RA ĐỜI "ĐỘI QUÂN TÓC DÀI"

Thứ năm - 20/02/2014 20:48
TÀI LIỆU SINH HOẠT KỶ NIỆM 104 NĂM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ  (08/3/1910-08/3/2014), 1974 NĂM KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG
( do Công đoàn Giáo dục tỉnh Bến Tre sưu tầm và biên soạn)
 
NỘI DUNG
1. Lịch sử ngày Quốc tế phụ nữ 8/3                                                    (Trang 4)
2. Sự ra đời của đội quân tóc dài                                                        (Trang 5)
3.Về các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đất Bến Tre                                  (Trang 7)
4. Kết luận số 55-KL/TW của Ban Bí thư ngày 18/1/2013 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”                                                               (Trang 9)
 
 
LỊCH SỬ NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3
 (Nguồn http://www.hoilhpn.org.vn/newsdetail.asp?newsid=10087&CatID=209)
Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 được tổ chức tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Đó là ngày phụ nữ được công nhận về các thành quả đạt được không phân biệt về quốc gia, dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế hoặc chính trị. Đó là một dịp để nhìn lại các cuộc đấu tranh trong quá khứ và các thành tựu đạt được, và quan trọng hơn là nhìn về phía trước về các tiềm năng chưa được khai thác và các cơ hội đang đón chờ các thế hệ phụ nữ trong tương lai.
Lịch sử ngày 8/3
Ngày Quốc tế Phụ nữ đầu tiên bắt nguồn từ các hoạt động của phong trào lao động vào đầu thế kỷ 20 ở Bắc Mỹ và khắp Châu Âu.
Năm 1909: Ngày Phụ nữ quốc gia lần đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ vào ngày 28/02. Đảng Cộng sản Mỹ đã chọn ngày này để tưởng nhớ cuộc đình công của công nhân may năm 1908 tại New York, nơi mà phụ nữ đã đấu tranh chống lại các điều kiện làm việc.
Năm 1910: Đại hội phụ nữ quốc tế Xã hội chủ nghĩa tại Cô-pen-ha-gen (Đan Mạch) đã thành lập Ngày Quốc tế Phụ nữ để tôn vinh phong trào vì quyền phụ nữ và tạo sự ủng hộ cho phụ nữ có quyền bầu cử. Quyết định này được ủng hộ bởi Đại hội với 100 đại biểu là phụ nữ đến từ 17 nước, trong đó có 3 phụ nữ lần đầu tiên được bầu vào Quốc hội Phần Lan. Tuy nhiên không có ngày cố định nào được chọn.
Năm 1911: Thừa kế sáng kiến của đại hội tại Cô-pen-ha-gen, Ngày Quốc tế Phụ nữ được tổ chức lần đầu tiên tại Úc, Đan Mạch, Đức và Hà Lan, nơi mà hơn 1 triệu phụ nữ và nam giới đã tham gia các cuộc mít tinh. Bên cạnh quyền được bầu cử và nắm giữ các chức vụ, họ yêu cầu các quyền của phụ nữ trong công việc, đào tạo nghề và chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm.
Năm 1913-1914: Trong phong trào hòa bình trước Chiến tranh thế giới lần thứ I, phụ nữ Nga đã tổ chức Ngày Quốc tế Phụ nữ lần đầu tiên vào chủ nhật cuối cùng của tháng 2 năm 1913. Ở các nước Châu Âu khác, vào khoảng ngày 8 tháng 3 năm 1914, phụ nữ đã tổ chức mít tinh để phản đối chiến tranh và thể hiện tình đoàn kết với các nhà hoạt động phong trào khác.
Năm 1917: Phản đối chiến tranh, phụ nữ ở Nga một lần nữa đã tổ chức cuộc đình công vì “Bánh mì và Hòa bình” vào ngày Chủ nhật cuối cùng của tháng 02 (đúng vào ngày 8/3 theo lịch Gregory-lịch ngày nay mà thế giới đang dùng). Bốn ngày sau đó, Nga Hoàng thoái vị và chính phủ lâm thời đã chấp nhận phụ nữ có quyền bỏ phiếu.
Vào năm 1975, trong Năm Quốc tế Phụ nữ, Liên hợp quốc đã bắt đầu tổ chức Ngày Quốc tế Phụ nữ vào ngày 8/3.
Năm 1977, Đại Hội đồng đã thông qua nghị quyết đề nghị các nước thành viên dành một ngày vì Quyền Phụ nữ và Hòa bình Thế giới trong năm. Thông qua nghị quyết, Đại Hội đồng đã công nhận vai trò của phụ nữ trong các nỗ lực vì hòa bình và phát triển và thúc đẩy mạnh mẽ việc chấm dứt sự phân biệt đối xử và đẩy mạnh sự hỗ trợ cho phụ nữ tham gia đầy đủ và công bằng.
Ngày 8 tháng 3 trở thành ngày lễ chung cho các quốc gia trên thế giới.
Kể từ đó Ngày Quốc tế phụ nữ đã mang tính toàn cầu cho cả phụ nữ ở các nước phát triển và đang phát triển. Phong trào phụ nữ ngày càng phát triển với 4 hội nghị phụ nữ toàn cầu đã tạo sụ ủng hộ quyền phụ nữ và sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế. Hiện nay, Ngày Quốc tế Phụ nữ là dịp để phản ảnh các tiến bộ đã đạt được, kêu gọi sự thay đổi và tôn vinh những người phụ nữ bình thường với các hành vi can đảm và nhiệt huyết đã có những đóng góp phi thường trong lịch sử của các quốc gia và cộng đồng.
 
SỰ RA ĐỜI CỦA “ĐỘI QUÂN TÓC DÀI”
 
(Nguồn http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=300&Itemid=47)
 
Hình tượng mái “tóc dài bay trong gió” của người phụ nữ trong bài hát “Dáng đứng Bến Tre” là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người “con gái Bến Tre” hiên ngang bất khuất trong “đội quân tóc dài” - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...”.
Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của “đội quân tóc dài” Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.
Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài
Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là “Bình trị Kiến Hòa” với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.
Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là “tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con “tản cư”. Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.
Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”“ (!).
  Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.
  Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của “đội quân tóc dài”, chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu “Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.
  Trong khi đó “đội quân tóc dài” trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.
  Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.
  Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.
  Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
 
VỀ CÁC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG ĐẤT BẾN TRE
 
(Nguồn http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=468&Itemid=47)
 
Ngày nay, đi trong màu xanh bạt ngàn của những vườn cây trải dọc bờ sông Tiền, sông Hàm Luông hay sông Ba Lai, thật khó mà hình dung nổi cách đây chỉ vài thập kỷ, những ruộng vườn nơi đây đã bị bom, pháo, lửa napalm và chất độc khai quang của Mỹ tàn phá và huỷ diệt, biến thành “vùng đất chết”, nếu người đó chưa một lần chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát khủng khiếp trước đó.
 Bàn tay con người quả là kỳ diệu. Với sự giúp đỡ của thời gian. Người dân ở đây bằng sức lao động bền bỉ và cần cù đã xoá đi bao nhiêu thương tích của chiến tranh. Nếu ai để ý lắm, thỉnh thoảng cũng có thể bắt gặp đây vài dấu tích của chiến tranh ngày xưa còn sót lại qua những vết đạn bom sâu hoắm, đen ngòm trên các thân cây dừa lão, hoặc ở nơi bức tường rêu phong của vài đình chùa nào đó.
 Thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp giải phóng đất nước đã mang lại niềm hạnh phúc lớn lao cho hàng chục triệu con người. Nhưng đối với các bà mẹ liệt sĩ, niềm tự hào xen lẫn với nỗi đau, sự mất mát không gì bù đấp được, là một thực tế hiện hữu. Những vết thương lòng, những hụt hẫn về tinh thần và tình cảm đên bàng hoàng sững sốt đối với nhiều bà mẹ sau ngày chiến tranh kết thúc, khi biết rằng những người thân ruột thịt mà mình đã đêm ngày chờ đợi một lần tái ngộ sẽ mãi không bao giờ diễn ra nữa. Còn có nỗi đau lớn hơn, kéo dài cho đến hôm nay, nhiều bà mẹ không tìm ra mộ con, người vợ không tìm ra mộ chồng, người anh người chị không tìm ra mộ em, mặc dù được chính quyền, đoàn thể, các cơ quan truyền thông hết lòng giúp đỡ. Có những bà mẹ, người vợ đã lặn lội hết tỉnh này qua tỉnh khác, lên nguồn, xuống biển, lần theo những sự chỉ dẫn, mách bảo của bạn bè, đồng đội xưa mong tìm được mộ người thân, những rồi cũng đành thất vọng. Nỗi đau, niềm cô quạnh của các bà mẹ, các chị ở trong những trường hợp như thế đâu dễ nguôi ngoai. Nếu năm tháng không làm giảm đi niềm tự hào về sự cống hiến những núm ruột tin yêu của mình cho Tổ quốc, thì chính nó cũng không thể xoá đi nỗi đau gần như triền miên của các bà mẹ, người vợ.
 Đi về bất cứ một thôn ấp nào ở thị xã, huyện Châu Thành hay Ba Tri, Giồng Trôm hay Bình Đại, Chợ Lách, Mỏ Cày hay Thạnh Phú, bước vào nhà người dân, khách thường gặp một hình ảnh quen thuộc: trên bàn thờ là tấm ảnh của người quá cố ( và cũng có thể là hay hoặc ba… ), nơi vách tường là những tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và những huân chương các loại. Có không ít gia đình, huân chương và bằng khen, bằng “Tổ quốc ghi công” treo kín cả bức tường. Đó là những minh chứng về lòng yêu nước, lòng tự hào những ẩn chứa bên trong lớp lớp nổi đau. Đó là cái giá cần thiết để đánh đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc và đất nước, mà những người đang sống không được phép quên.
 Trân trọng những cống hiến vô giá của những bà mẹ, người vợ của những liệt sĩ, anh hùng đã ngã sống vì sự nghiệp giải phóng của đất nước, Đảng và nhà nước ta trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, đã ban hành nhiều chính sách nhằm chăm lo, giải quyết những nhu cầu bức thiết về đời sống vật chất và tinh thần cho các bà mẹ, bà chị như là một cách biểu thị lòng tri ân của Đảng và nhân dân đối với sự hy sinh vô giá đó. Chính quyền, đoàn thể của từng địa phương, đặc biệt là ở cấp cơ sở cũng đã có nhiều quan tâm, cố gắng, lo toan, chăm nom, thăm viếng các mẹ, các chị, nhất là trong dịp lễ, Tết, hoặc trong những lúc trái gió trở trời.
 Ngày 17-12-1994, thay mặt Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Lê Đức Anh đã ký quyết định 394/KTCTW tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong cả nước. Đến năm 2000, đã có 1,937 bà mẹ trong tỉnh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
 Mẹ Cao Thị Thơm, quê xã Định Trung, huyện Bình Đại có 7 con là liệt sĩ. Đó là người mẹ có số con hy sinh cao nhất ở tỉnh Bến Tre.
Có 3 bà mẹ có 6 con là liệt sĩ.
1.Lữ Thị Tư, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày.
2.Phùng Thị Năm, xã Tam Phước, huyện Châu Thành.
3.Nguyễn Thị Lang, xã Đại Hoà Lộc, huyện Bình Đại.
Có 10 bà mẹ có 5 con là liệt sĩ.
1. Đặng Thị Nỉ, xã Thới Thuận, huyện Bình Đại
2. Bùi Thị Ngọc, xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại
3. Trần Thị Là, xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại
4. Lê Thị Đạt, xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri
5. Nguyễn Thị Thảnh, xã Lướng Quới, huyện Giồng Trôm
6. Châu Thị Biết, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm
7. Châu Thị Rớt, xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú
8. Trần Thị Tư, xã Phú Túc, huyện Châu Thành
9. Lê Thị Tỉnh, xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày
10. Trịnh THị Nhứt, xã Ngãi Đăng, huyện Mỏ Cày
 
 
KẾT LUẬN SỐ 55-KL/TW CỦA BAN BÍ THƯ NGÀY 18/01/2013 VỀ TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 11-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ KHÓA X “VỀ CÔNG TÁC PHỤ NỮ THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC”
(Nguồn http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=279&leader_topic=692&id=BT131355856)
Tại phiên họp ngày 04-12-2012, sau khi nghe Ban Dân vận Trung ương báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị khóa X “ về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ý kiến của các cơ quan có liên quan, Ban Bí thư đã thảo luận và kết luận như sau:
1- Năm năm qua, việc triển khai thực hiện Nghị quyết sơ 11- NQ/TW ngày 27-4-2007của Bộ Chính trị khóa X “ về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã đạt được những thành tựu nhất định. Nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về giới, bình đẳng giới, về phụ nữ và công tác phụ nữ được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực. Hệ thống pháp luật, chính sách về bình đẳng giới tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực lao động sản xuất, kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, xã hội. Trình độ, năng lực, vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được nâng lên. Công tác gia đình ngày càng được quan tâm; điều kiện sống của các gia đình đã được cải thiện đáng kể. Đội ngũ cán bộ nữ có sự chuyển biến về chất lượng và số lượng; có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và tinh thần trách nhiệm, luôn vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt công việc được giao. Công tác phụ vận tiếp tục đạt nhiều kết quả, hội liên hiệp phụ nữ các cấp đã tập hợp, vận động các tầng lớp phụ nữ tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tổ chức Hội có bước phát triển, tính liên hiệp và việc thực hiện chức năng đại diện, vai trò cầu nối giữa Đảng với phụ nữ có chuyển biến tốt, bộ máy tiếp tục được kiện toàn, chất lượng cán bộ được nâng lên; tỷ lệ phụ nữ tham gia tổ chức Hội, tham gia các hoạt động của Hội ngày càng tăng.
2- Tuy nhiên, công tác phụ nữ vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Đời sống vật chất, tinh thần, điều kiện lao động, học tập, sinh hoạt của nhiều phụ nữ chưa thực sự được nâng cao. Việc triển khai, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết chưa đồng bộ, chưa gắn với chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm của các cấp ủy đảng, chính quyền; nguồn lực cho công tác phụ nữ chưa được ưu tiên, tập trung; nhiều chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết chưa đạt yêu cầu đề ra; hệ thống pháp luật, chính sách về bình đẳng giới chưa được hoàn thiện, còn nhiều bất cập.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do nhiều cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan tham mưu, giúp việc chưa quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết; một số nơi chưa thực sự quan tâm đến công tác phụ nữ, còn biểu hiện coi công tác phụ nữ là trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ và Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ. Hệ thống văn bản pháp luật về bình đằng giới, chính sách để tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển còn thiếu đồng bộ, chưa theo đúng tinh thần của Nghị quyết về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ. Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp, cán bộ, đảng viên nữ chưa thực sự làm tốt nhiệm vụ được giao trong Nghị quyết. Công tác phối hợp giữa các cấp ủy đảng với các ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện Nghị quyết chưa chặt chẽ. Công tác truyền thông và giáo dục về bình đẳng giới, về xây dựng gia đình chưa thường xuyên. Chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về công tác phụ nữ chưa được phân định rõ ràng. Một bộ phận phụ nữ chưa thực sự phấn đấu vươn lên.
3- Trong thời gian tới, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X, các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể cần tiếp tục quán triển và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết đã đề ra, trong đó tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Công tác phụ nữ là vấn đề lớn, quan trọng và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông, Đảng đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tăng cường truyền thông để tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và của toàn xã hội về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của phụ nữ; về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phụ nữ, về bình đẳng giới, về hôn nhân và gia đình. Thông qua truyền thông để giáo dục giá trị truyền thống của phụ nữ Việt Nam, nêu gương người tốt, việc tốt; phê phán những biểu hiện phân biệt đối xử với phụ nữ.
- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc thể chế hóa các nội dung Nghị quyết; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện để tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển; đặc biệt quan tâm đến nội dung thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, nghỉ hưu.
- Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu, các chiến lược quốc gia, đặc biệt là Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030; Nghị định 56/NĐ-CP của Chính phủ về quy định trách nhiệm của Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật… để tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển; tiếp tục có chính sách phù hợp để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ nông thôn, vùng sâu, vùng xa, phụ nữ dân tộc thiểu số.
- Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn thực hiện công tác cán bộ nữ để các cấp ủy đảng, ban, ngành, đoàn thể, địa phương xây dựng quy hoạch cán bộ nữ. Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỉ lệ nữ từ 30%, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỉ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, cán bộ, đảng viên nữ cần tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tham mưu, giới thiệu, tạo nguồn cán bộ nữ và giới thiệu quần chúng là phụ nữ ưu tú cho Đảng. Phát huy vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong công tác vận động phụ nữ, xây dựng, củng cố tổ chức Hội thật sự vững mạnh. Hội cần tích cực, chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với các cấp chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, địa phương phát hiện và giải quyết các nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, ly hôn, ly thân, buôn bán phụ nữ và trẻ em, hôn nhân có yếu tố nước ngoài thiếu lành mạnh, xâm hại tình dục trẻ em, bất bình đẳng giới.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, căn cứ và chức năng, nhiệm vụ của mình để tổ chức vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện Nghị quyết.
4- Ban Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các ban đảng Trung ương theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kết luận này của Ban Bí thư, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Kết luận này được phổ biến đến chi bộ.
                                                                                    T/M BAN BÍ THƯ
                                                                                             (Đã ký)
                                                                                         Lê Hồng Anh
 
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Vĩnh Khánh

Nguồn tin: CĐGD tỉnh Bến Tre

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

DỰ ÁN RAU HỮU CƠ

Đăng nhập thành viên

Siêu dự án Cocobay Đà Nẵng tổng vốn đầu tư 10.000 tỷ Cocobay Đà Nẵng siêu lợi nhuận tối thiểu 12%/năm
Sở hữu căn hộ chung cư cao cấp 5 sao hồ điều hòa 33ha Vinhomes phạm hùng
Vinhomes Nguyễn Trãi (Vinhomes Cao Xà Lá) chuẩn bị mở bán Vinhomes Nguyễn Trãi
Ra mắt dự án chung cư Minh Khai City Plaza tại vị trí 201 minh khai (còn gọi Chung cư 201 minh khai Mở bán dự án Chung cư Gelexia Riverside 885 Tam Trinh giá chỉ từ 17tr/m2 full nội thất cơ bản.